Chương 1 Lời nói đầu

Xin chào!

Nhận thấy trong khoảng thời gian gần đây, các đồng nghiệp tại ngân hàng VCCB, nơi tôi đang làm việc, rục rịch bàn tán xôn xao về rủi ro tín dụng dưới sắc màu của chuẩn mực IFRS 9, trong khi khoảng thời gian còn mài dũa trên ghế nhà trường và chương trình FRM, tôi chủ yếu tiếp xúc với rủi ro tín dụng dưới màu cờ của Basel II và sử dụng các dạng công cụ phái sinh tín dụng để quản trị và đo lường rủi ro này. Vài năm sau đó, chương trình CFA cho tôi tiếp xúc lần đầu với cụm từ IFRS 9 trong vai trò phân tích một báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có sự giao thoa giữa kế toán IFRS 9 và quản trị rủi ro như những gì thực tiễn diễn ra trước mắt mình. Rõ ràng có sự thiếu hụt về kiến thức trong mảng này, nên tôi quyết định tìm hiểu sâu hơn, và đó là lý do cuốn sách này ra đời.

Cuốn sách này ghi lại những kiến thức và sự am hiểu của cá nhân tôi, bằng ngôn ngữ lập trình tuyệt vời R. Vì năng lực của tôi có hạn, nên tôi chủ yếu mong muốn chia sẻ kiến thức mình đến đông đảo độc giả, với hy vọng rằng có một chuyên gia tốt hơn có thể chỉnh sửa uốn nắn kiến thức của tôi, đồng thời các bạn học, bạn đồng nghiệp của tôi, có thể tiếp cận được một điều gì đó thiết thực nhất trong công việc.

Trong cuốn sách này, tôi cố gắng vận dụng những gì mình tham khảo, học hỏi vào trong thực tiễn, với bộ dữ liệu tuyệt vời từ tiến sĩ Tiziano Bellini. Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ đã công khai bộ dữ liệu trong cuốn sách đắt giá IFRS 9 and CECL Credit Risk Modelling and Validation của mình. Cuốn sách đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều và trở thành một nguồn tham khảo quan trọng của tôi cho việc viết nên cuốn sách này. Ngoài ra, những đầu sách tuyệt với khác như The Basel II Risk Parameters của Bernd Engelmann và cộng sự và Credit risk analytics của Bart Baesens và cộng sự rất đáng để bạn đọc tham khảo.

Thực tiễn thông thường thường tính toán Expected credit losses (ECL) thông qua bộ ba tham số Probability of default (PD), Loss given default (LGD), Exposure at default (EAD) bằng công thức đơn giản:

\[ECL_0 = \text{Present value}(PD_t \times LGD_t \times EAD_t)\]

Thời điểm \(t\) được xác định có thể là một năm sau hoặc thời hạn tín dụng. Chính điều này gây nên sự khác biệt trong việc tính toán ECL đối với IFRS 9 và CECL. Trong khi CECL chủ trương sử dụng thời hạn tín dụng cho mọi khoản tín dụng, IFRS 9 lại chia thành ba bucket chính: stage 1 cho 1-year ECL, stage 2 cho lifetime ECL, và stage 3 cho impaired credits. Đứng dưới góc độ là một risk analyst/risk modeler, việc đo lường những tham số này là điều cần thiết đối với tôi. Đây cũng chính là trọng tâm những gì tôi chia sẻ trong cuốn sách này.

Cấu trúc cuốn sách như sau.

Chương 1 so sánh chủ yếu giữa IFRS 9 và CECL, tập trung kết nối giữa ước lượng ECL và yêu cầu vốn trong Basel.

Chương 2 tập trung vào việc mô hình 1-year PD.

Chương 3 mô hình hoá lifetime PD.

Chương 4 nói về LGD.

Chương 5 sẽ phân tích EAD.

Và cuối cùng, Chương 6 sẽ tổng hợp lại tất cả để cho ra ECL.